fbpx
Học viện đào tạo pháp chế ICA
Thế nào là quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế?

Quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế là một chủ đề quan trọng và phức tạp, liên quan đến việc xác định quyền sở hữu và quyền liên quan đến tài sản giữa các chủ thể thuộc quốc gia khác nhau. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tăng cường quan hệ kinh tế, việc hiểu và áp dụng quy định về quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế là rất quan trọng để đảm bảo sự công bằng và ổn định trong giao dịch quốc tế. Mời bạn đọc tìm hiểu thêm trong bài viết “Thế nào là quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế?”.

Thế nào là quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế?

Quyền sở hữu là quyền được công nhận pháp lý liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng và quyết định về tài sản. Trong tư pháp quốc tế, quan hệ sở hữu có thể có yếu tố nước ngoài khi các chủ thể liên quan đến sở hữu là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài hoặc nhà nước nước ngoài. Điều này có thể xảy ra khi các chủ thể nước ngoài tham gia vào giao dịch, đầu tư hoặc sở hữu tài sản ở một quốc gia khác.

Quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế, theo quy định pháp luật Việt Nam, là một khái niệm pháp lý dùng để mô tả quyền và nghĩa vụ của cá nhân và tổ chức đối với tài sản. Quan hệ sở hữu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền tiếp nhận lợi ích và quyền kiểm soát tài sản.

Theo pháp luật Việt Nam, quan hệ sở hữu được quy định chủ yếu bởi Bộ luật Dân sự. Theo Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu là quyền tối cao và pháp nhân nhận, thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản theo quy định của pháp luật. Quyền sở hữu bao gồm quyền thụ hưởng, sử dụng, sửa chữa, tận dụng, chuyển nhượng và quyền kiểm soát tài sản.

Quyền sở hữu có thể được thực hiện đối với các loại tài sản khác nhau, bao gồm tài sản vô hình (như quyền sở hữu trí tuệ), tài sản vật chất (như đất đai, nhà cửa, phương tiện di chuyển, hàng hóa), và tài sản tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ).

Quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế cũng có thể được điều chỉnh bởi các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, chẳng hạn như Hiến chương Liên Hiệp Quốc, các hiệp định thương mại tự do, và các hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Ngoài ra, quy định về quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế còn liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc chuyển nhượng, thừa kế, cầm cố, thế chấp tài sản, giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu, và các vấn đề liên quan khác.

Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế theo quy định pháp luật Việt Nam, đòi hỏi nghiên cứu và tham khảo các văn bản pháp luật cụ thể, bao gồm Bộ luật Dân sự và các quy định liên quan khác.

Thế nào là quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế?
Thế nào là quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế?

Nguyên tắc xác định quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế

Trong quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, một nguyên tắc quan trọng được áp dụng là nguyên tắc luật nơi có tài sản. Theo nguyên tắc này, hệ thống luật của quốc gia nơi có tài sản được áp dụng để xác định quyền sở hữu và quyền liên quan đến tài sản. Điều này có nghĩa là việc xác định, thiết lập, thay đổi và chấm dứt quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản sẽ tuân theo quy định của quốc gia nơi tài sản đó tồn tại.

Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế có yếu tố nước ngoài là quyền sở hữu liên quan đến các chủ thể nước ngoài.

Quyền sở hữu bao gồm tổng hợp các quyền và nghĩa vụ được pháp luật công nhận liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng và quyết định về tài sản.

Trong lĩnh vực tư pháp quốc tế, quyền sở hữu của các chủ thể được đề cập đến là quyền sở hữu có liên quan đến nước ngoài. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ sở hữu có thể được thể hiện qua các điểm sau đây:

  • Chủ thể tham gia quan hệ sở hữu là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Ví dụ, khi một người nước ngoài đến Việt Nam du lịch và mang theo tài sản cá nhân, việc công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quyết định về tài sản của người nước ngoài trong Việt Nam sẽ dựa trên các quy định của pháp luật. Quan hệ sở hữu của người nước ngoài đối với tài sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài.
  • Đối tượng của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài.
  • Sự kiện pháp lý gây ra sự thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra tại nước ngoài. Ví dụ, một công ty xuất nhập khẩu Việt Nam ký một hợp đồng mua bán quốc tế với một công ty nước ngoài để nhập khẩu linh kiện máy móc về Việt Nam. Hợp đồng này được ký tại lãnh thổ nước ngoài và có hiệu lực pháp lý, trong khi hàng hóa đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, việc xác định quyền sở hữu của công ty Việt Nam trong trường hợp này sẽ phụ thuộc vào các quy định tư pháp quốc tế. Quan hệ sở hữu này cũng được gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài.

Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế

Quy định về quan hệ sở hữu trong tư pháp quốc tế cũng cần xem xét các yếu tố khác như sự di chuyển của tài sản qua biên giới quốc gia. Trong trường hợp tài sản động được chuyển đến quốc gia khác, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản đó sẽ tuân theo quy định của quốc gia nơi tài sản động đó được chuyển đến.

Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam tương tự với nguyên tắc được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đó là áp dụng hệ thống luật của quốc gia nơi có tài sản. Cụ thể, Điều 677 và Điều 678 trong pháp luật Việt Nam quy định như sau:

Điều 677: Phân loại tài sản

Việc phân loại tài sản, bao gồm động sản và bất động sản, được xác định theo quy định của pháp luật quốc gia nơi có tài sản đó.

Điều 678: Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản

  1. Việc thiết lập, thực hiện, thay đổi và chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác liên quan đến tài sản được xác định theo quy định của pháp luật quốc gia nơi có tài sản đó, trừ khi có quy định khác tại khoản 2 của Điều này.
  2. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản động trên đường vận chuyển được xác định theo quy định của pháp luật quốc gia nơi tài sản động được chuyển đến, trừ khi có thỏa thuận khác.

Quy định tại khoản 2 của Điều 678 là một quy định có lợi cho Việt Nam, bởi vì hiện nay nước ta là một nước nhập siêu, có nghĩa là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu.

Nguyên tắc áp dụng luật của quốc gia nơi có tài sản cũng được pháp luật Việt Nam áp dụng để xác định loại tài sản theo Điều 677 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bất động sản bao gồm đất, nhà ở, công trình gắn liền với đất; tài sản gắn liền với đất; và tài sản nằm trong lòng đất. Phân biệt giữa bất động sản và động sản không dựa trên giá trị của tài sản, mà dựa trên tính chất cơ học của tài sản, tức là khả năng di chuyển hoặc không di chuyển.

Câu hỏi thường gặp:

Điều kiện để trở thành chủ thể của tư pháp quốc tế là gì?

Cá nhân, tổ chức phải có đầy đủ năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi) theo quy định của pháp luật.
Cá nhân, tổ chức đó phải tham gia vào quan hệ xã hội do tư pháp điều chỉnh.
Người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài là chủ thể chủ yếu của Tư pháp quốc tế:
Quan hệ pháp luật thực chất là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, chính vì vậy trong tư pháp quốc tế không thể không có sự tham gia của cá nhân và tổ chức.​
Hầu hết các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì đều có sự tham gia của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài.

Chủ thể của tư pháp quốc tế là ai?

Trong tư pháp quốc tế, các chủ thể tham gia và chịu sự điều chỉnh của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài bao gồm:
Thứ nhất, các cá nhân tham gia trong tư pháp quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cụ thể như sau:
Người nước ngoài được xác định là những người không có quốc tịch của Việt Nam, bao gồm cả những người có quốc tịch nước ngoài hoặc những người không có quốc tịch.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm cả các công dân của Việt Nam và người có gốc Việt Nam nhưng đã có thời gian dài cư trú, sinh sống ở nước ngoài. Những người này có thể là người còn quốc tịch Việt Nam hoặc người song quốc tịch (trong đó có quốc tịch Việt Nam).
Với hình thức chủ thể này, nguyên tắc nền tảng, ghi nhận trong Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia chính là đối xử quốc gia, tối huệ quốc, có đi có lại và nguyên tắc đãi ngộ đặc biệt.
Thứ hai, chủ thể là pháp nhân, không chỉ bao gồm các pháp nhân được thành lập theo quy định của Việt Nam mà còn bao gồm cả những pháp nhân được thành lập theo quy định của nước ngoài. Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật dân sự năm 2015, mỗi pháp nhân đều phải có năng lực pháp luật dân sự, đó là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Đối với pháp nhân, năng lực pháp luật dân sự được phát sinh chính từ thời điểm được thành lập bởi các cơ quan có thẩm quyền hoặc chính tại thời điểm được cho phép thành lập hoặc thời điểm ghi vào sổ đăng ký.
Thứ ba, chủ thể là các quốc gia: Có thể nói, trong các chủ thể của tư pháp quốc tế đây được coi là chủ thể có tư cách đặc biệt. Đây là một thực thể pháp lý, chính trị được cấu thành bởi ba yếu tố là lãnh thổ, dân cư, chủ quyền. Cũng như những chủ thể khác, quốc gia tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế, thực hiện giải quyết các tranh chấp phát sinh, thực hiện các nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, với vai trò đặc thù của mình, quốc gia có thể thực hiện việc xây dựng, ký kết, gia nhập các Điều ước quốc tế, các Hiệp ước song phương, đa phương.

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan

.
.
.
Sơ đồ bài viết