Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I: Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho người học. Nội dung giải thích chi tiết khái niệm Luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, và các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc pháp chế, công bằng, đảm bảo quyền bào chữa. Đây là tài liệu hữu ích, giúp sinh viên hiểu sâu về hệ thống pháp luật hình sự và vai trò của tố tụng trong bảo vệ công lý.
Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I
Chương 1: Khái niệm Luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự
I. Khái quát về luật tố tụng hình sự
1. Khái niệm
– Theo Hiến pháp 2013: Tòa án là cơ quan xét xử thực hiện chức năng tư pháp. Như vậy cơ quan xét xử duy nhất của VN là tòa án.
– Khái niệm tố tụng hình sự rộng hơn so với khái niệm xét xử, vì tố tụng bao gồm cả các giai đoạn trước khi xét xử như điều tra, gồm cả các giai đoạn sau khi xét xử như thi hành án
– Khái niệm: luật Tố tụng hình sự là 1 ngành luật độc lập trong hệ thống PL, tổng hợp các quy phạm PL điều chỉnh các quan hệ XH phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
– Các giai đoạn tố tụng:
+ khởi tố vụ án hình sự: cơ quan có thẩm quyền xác định vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không để quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không. Chú ý: dù có khởi tố hay không cũng đều phải ra Quyết định, vì khi người dân báo tin cho cơ quan có thẩm quyền về vụ việc, thì cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm thông báo lại cho người dân về quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Nếu ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ chuyển sang giai đoạn điều tra. Nếu ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì người dân có quyền khiếu nại. VD người dân báo tin có đối tượng trộm cắp tài sản, cơ quan có thẩm quyền xác định giá trị của tài sản bị trộm cắp dưới 2 triệu đồng nên ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự
+ điều tra vụ án hình sự: cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá để xác định tội phạm; sau khi đã có đủ căn cứ xác định người phạm tội thì cơ quan điều tra gửi hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát cùng Quyết định khởi tố bị can. Chú ý: khởi tố bị can là 1 bước trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự chứ không phải là 1 giai đoạn của tố tụng hình sự. Nếu cơ quan điều tra thấy không đủ căn cứ để cấu thành tội phạm thì ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án
+ truy tố: Viện kiểm sát kiểm tra hồ sơ vụ án, nếu thấy chưa đủ chứng cứ thì có thể ra Quyết định đình chỉ vụ án, hoặc gửi trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra để bổ sung chứng cứ; nếu thấy đã đủ chứng cứ thì chuyển sang Tòa án để tiến hành xét xử sở thẩm
+ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: là xét xử ở tòa án cấp thứ nhất (chú ý: không phải là xét xử lần đầu, vì có những vụ án nhiều lần đưa ra xét xử), có thể là tòa cấp huyện (với tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng) hoặc tòa cấp tỉnh (với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng)
+ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự: nếu sau khi xét xử sơ thẩm mà VKS không đồng ý với bản án của tòa án thì có quyền kháng nghị; nếu đương sự không đồng ý với bản án thì có quyền kháng cáo; kháng nghị và kháng cáo được gửi lên tòa án cấp trên để xét xử phúc thẩm (tức là xét xử lần nữa); sau khi xét xử phúc thẩm thì bản án có hiệu lực PL ngay
+ thi hành án hình sự: hiện nay có nhiều quan điểm về việc thi hành án hình sự là 1 giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự hay chỉ là hoạt động hành chính tư pháp. (vì đã có luật Thi hành án riêng; chủ thể của giai đoạn thi hành án có thể là chủ thể hành chính, như với trường hợp được hưởng án treo thì sẽ giao cho UBND cấp xã quản lý)
+ thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm: (chú ý: đây không phải là 1 cấp xét xử)
- Giám đốc thẩm: là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Ví dụ: A say rượu đánh B, B bỏ chạy, một thời gian sau phát hiện thấy bộ hài cốt, A nhận tội giết B và bị xử tù, B ở tù được 1 thời gian thì B trở về ==> giám đốc thẩm vì đã vi phạm nghiêm trọng PL tố tụng, chỉ coi lời khai của A mà không thực hiện giám định hài cốt (PL quy định: không được coi lời khai của bị can, bị cáo làm chứng cứ buộc tội duy nhất; lời khai của bị can, bị cáo chỉ có giá trị buộc tội khi phù hợp với những chứng cứ thu được)
- Tái thẩm: được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó
– Các căn cứ để xác định các giai đoạn tố tụng:
+ nhiệm vụ: mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng
+ hành vi tố tụng: mỗi giai đoạn tiến hành công việc tố tụng khác nhau
+ phạm vi chủ thể: ví dụ Tòa án chỉ tham gia vào giai đoạn xét xử, không tham gia vào giai đoạn điều tra hay truy tố
+ văn bản tố tụng: ví dụ ở giai đoạn truy tố có Bản cáo trạng, giai đoạn xét xử có Bản án
2. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh luật tố tụng hình sự
– Đối tượng điều chỉnh: Là những quan hệ XH phát sinh giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
– Phương pháp điều chỉnh: 2 phương pháp đặc trưng:
+ phương pháp quyền uy: điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng.
VD triệu tập bị can đến phiên tòa, nếu bị can không đến thì sẽ bị áp giải, nếu bỏ trốn thì sẽ bị truy nã.
VD luật TTHS 2015 quy định người làm chứng nếu không đến phiên tòa thì sẽ bị dẫn giải (để tránh phiên tòa bị hoãn)
+ phương pháp phối hợp và chế ước: phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, tức là phối hợp giữa CQĐT, VKS, Tòa án để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, và nếu 1 cơ quan làm sai thì cơ quan khác có quyền phát hiện, đề nghị sửa chữa hoặc tự mình sửa chữa.
Ví dụ: CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án mà VKS thấy sai thì VKS có thể ra Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án của CQĐT; hoặc CQĐT ra quyết định khởi tố bị can không đúng thì VKS có quyền không phê chuẩn
Câu hỏi: tại sao khi CQĐT ra quyết định sai thì VKS có thể hủy quyết định đó, còn khi tòa án ra bản án sai thì VKS chỉ được quyền kháng nghị mà không có quyền hủy bản án ?
Trả lời: vì nguyên tắc của Tòa án là xét xử độc lập, chỉ tuân theo PL, bản án của tòa án là nhân danh nước CHXHCN Việt Nam, do đó VKS chỉ có quyền kháng nghị đối với bản án mà không có quyền hủy bản án
3. Quan hệ PL tố tụng hình sự
– Là quan hệ do các quy phạm PL tố tụng hình sự điều chỉnh, phát sinh trong quá trình tố tụng, trong đó quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được PL quy định và được PL bảo đảm thực hiện
VD: bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình
– Đặc điểm của quan hệ PL tố tụng hình sự:
+ mang tính quyền lực NN: vì 1 trong các bên của quan hệ luôn là cơ quan quyền lực NN
+ có quan hệ mật thiết với quan hệ PL hình sự: chỉ khi có quan hệ PL hình sự thì mới phát sinh quan hệ PL tố tụng hình sự. VD có vi phạm PL hình sự (tức là có phạm tội hình sự) thì mới bắt đầu quá trình tố tụng hình sự
+ có liên quan mật thiết với các hoạt động tố tụng mà trong đó chúng phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt:
VD khi ra quyết định khởi tố bị can thì sẽ phát sinh quan hệ PL tố tụng hình sự giữa cơ quan điều tra với bị can
VD đã khởi tố bị can về tội trộm cắp nhưng điều tra tài sản trộm cắp dưới 2 triệu thì chuyển sang xử lý hành chính ==> thay đổi quan hệ PL tố tụng hình sự
VD khi ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án do không đủ cấu thành tội phạm thì chấm dứt quan hệ PL tố tụng hình sự
+ có 1 số chủ thể đặc biệt mà quyền hạn và trách nhiệm có liên quan chặt chẽ với nhau, gồm: CQĐT, VKS, tòa án. VD: nếu CQĐT không đề nghị truy tố thì VKS chưa thể lập cáo trạng; VKS không truy tố thì tòa án không được xét xử; Tòa án không được xét xử những hành vi không được VKS truy tố
II. Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
1. Khái niệm
– Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc 1 số hoạt động của TTHS được PL ghi nhận
– Ví dụ:
+ nguyên tắc pháp chế: chi phối mọi giai đoạn của TTHS
+ nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số: chỉ áp dụng trong giai đoạn xét xử
+ nguyên tắc suy đoán vô tội: không có trong giai đoạn thi hành án
– Phân loại:
+ các nguyên tắc đặc thù: chỉ có trong PL TTHS
+ các nguyên tắc khác: có trong PL TTHS và các văn bản PL khác
2. Các nguyên tắc đặc thù
a. Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 9 Luật TTHS 2003, Điều 31 Hiến pháp 2013)
– Suy đoán: là đoán điều chưa biết căn cứ vào những điều đã biết và giả định
– Suy đoán vô tội: là phán đoán, kết luận sự vô tội của 1 người trên cơ sở phân tích những thông tin và những giả định
– Nguyên tắc suy đoán vô tội: là định hướng cơ bản mang tính xuất phát điểm đảm bảo cho người bị buộc tội được coi là không có tội khi lỗi của họ chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực PL
– Nội dung nguyên tắc:
+ người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực PL
+ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình có tội
+ mọi hoài nghi về tội của người bị buộc tội nếu chưa được làm sáng rõ theo trình tự thủ tục quy định của PL thì phải xử lý theo hướng có lợi cho họ
– Ý nghĩa của nguyên tắc:
+ ý nghĩa pháp lý: góp phần hạn chế oan sai, là cơ sở để tuyên bố vô tội, trong quá trình điều tra thì bị can được đối xử người bình thường chứ không bị đối xử như tội phạm
+ ý nghĩa xã hội
+ ý nghĩa nhân đạo và dân chủ
b. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10)
– Là định hướng cơ bản thể hiện quan điểm của NN, theo đó cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định những tình tiết có thật của vụ án thông qua việc thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ.
– Nội dung:
+ CQĐT, VKS và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
+ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.
+ Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
c. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)
– Người bị tạm giữ, bị can bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Người có quyền tự bào chữa: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Luật TTHS 2015 bổ sung thêm người bị bắt và người bị bắt khẩn cấp)
Người “khác” có quyền bào chữa: luật sư, người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân (Luật TTHS 2015 bỏ sung thêm trợ trúp viên pháp lý)
– CQĐT, VKS, tòa án có trách nhiệm đảm bảo quyền được bào chữa với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
d. Nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm soát việc tuân theo PL trong TTHS (Điều 23)
– Đây là 2 chức năng đặc trưng của VKS
– Nội dung:
+ VKS quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án.
+ VKS kiểm sát việc tuân theo PL trong TTHS, có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm PL của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này.
– Ý nghĩa:
+ nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời;
+ việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng PL, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
e. Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự (Điều 13)
– Là nguyên tắc của luật TTHS, theo đó cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm và áp dụng các biện pháp theo quy định giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
3. Các nguyên tắc khác
a. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN (Điều 3)
– Yêu cầu các chủ thể tham gia TTHS phải chấp hành nghiêm chỉnh PL:
+ cơ quan, người tiến hành tố tụng
+ người tham gia tố tụng
+ cơ quan, tổ chức và công dân tham gia TTHS
– Yêu cầu đặt ra để thực hiện nguyên tắc:
+ PL phải phù hợp với thực tiễn, yêu cầu của xã hội đòi hỏi
+ Phải tuyên truyền, phổ biến PL đến từng người tham gia tố tụng, đến đông đảo người dân
+ Các cơ quan tiến hành tố tụng phải gương mẫu chấp hành PL
b. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước PL (Điều 5)
c. Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo PL (Điều 16)
d. Nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18)
e. Thực hiện chế độ 2 cấp xét xử (Điều 20)
f. Đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án
– Chủ thể bình đẳng:
+ kiểm sát viên
+ bị cáo, người đại diện hợp pháp
+ người bào chữa
+ người bị hại
+ nguyên đơn dân sự (với luật TTHS 2015 thì chuyển thành Người bị hại)
+ bị đơn dân sự
+ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
+ người bảo vệ quyền lợi của đương sự
Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc
Mời bạn xem thêm: